Nếu bạn chưa nộp bài, dừng lại ở đây. Quay về bài 1, làm xong cả mười ba mục, chấm theo bài 5, rồi mới đọc tiếp. Đọc đáp án trước khi làm sẽ lấy mất thứ duy nhất bài tập này đo được: bạn tự nhìn thấy bao nhiêu.
Cách đọc đáp án
Sáu bản ghi và bảng số liệu của cô Mai chứa 24 điều ẩn: 12 pain point, 3 mâu thuẫn và 6 quy tắc nghiệp vụ nằm trong lời kể, cộng 3 điều chỉ bảng số liệu cho thấy. Ngoài ra có 3 lời đề nghị nghe giống yêu cầu nhưng không thuộc phạm vi ứng dụng. Không câu nào trong sáu bản ghi được đánh dấu là quan trọng; tất cả đều nằm lẫn trong lời nói bình thường, đúng như khi bạn phỏng vấn thật.
Mọi trích dẫn dưới đây là nguyên văn từ bài 2, bài 3 và bài 4. Nếu trích dẫn trong bài của bạn khác chữ, hãy mở lại bản ghi và sửa; đó cũng là một phần của bài tập.
Cột bằng chứng dùng quy ước của khóa Từ ghi chép tới insight: mạnh khi có từ hai người trở lên kể độc lập, hoặc có câu chuyện cụ thể kèm tần suất; yếu khi chỉ một người nói, hoặc chỉ là ý kiến chưa có câu chuyện. Yếu không có nghĩa là bỏ đi. Yếu nghĩa là cần kiểm chứng thêm trước khi đặt nhiều công sức vào.
Mười hai pain point
| Mã | Mô tả | Ai nói | Trích dẫn ngắn | Bằng chứng |
|---|---|---|---|---|
| L1 | Phải tới tận quầy, chỉ trong giờ quầy mở 8:00 tới 17:00, mới đặt được; tối và cuối tuần không đặt được | Nam, Huy | Nam: "Muốn chắc thì phải ra tận quầy, mà quầy chỉ nhận từ 8 giờ tới 5 giờ chiều." Huy: "Thứ Bảy em rảnh cả ngày mà thứ Bảy không ai nhận đặt." | Mạnh, hai người kể độc lập với hai lý do khác nhau |
| L2 | Đặt rồi bỏ không, phòng trống mà nhóm khác đứng chờ ngoài cửa | Nam, cô Mai | Nam: "Đặt rồi bỏ không đó chị." Cô Mai: "Phòng trống trơn, nhóm khác đứng ngoài cửa nhìn vô" | Mạnh, cả người dùng và thủ thư cùng kể |
| L3 | Không xem được phòng nào còn trống trước khi tới thư viện | Huy | "Em không biết còn phòng hay không, phải chạy từ chỗ làm về tới nơi mới biết." | Yếu về số người, nhưng có câu chuyện cụ thể |
| L4 | Một người đặt liền cả tuần, giữ chỗ, không công bằng | Nam, cô Mai | Nam: "đặt liền cả tuần luôn, sáng nào cũng phòng 3" Cô Mai: "Có em đặt luôn cả tuần, sáng nào cũng phòng 3, cùng một tên." | Mạnh, hai phía mô tả cùng một trường hợp; nay thêm số liệu: 3 sinh viên chiếm 19% tổng lượt đặt |
| L5 | Không biết phòng nào có máy chiếu, TV, bảng nên chọn nhầm phòng | Nam | "Phòng nào có máy chiếu, phòng nào có TV, em không biết hỏi ai, trên sổ cũng không ghi." | Yếu, một người, một lần |
| L6 | Báo thiết bị hỏng thì không tới ai, nhóm sau lại gặp | Huy, cô Mai | Huy: "Báo máy chiếu hỏng mà như ném xuống giếng." Cô Mai: "nhóm sau vô lại gặp đúng cái máy đó" | Mạnh, người báo và người nhận báo cùng kể |
| L7 | Nhóm trước ở quá giờ, thủ thư phải đứng giữa | Cô Mai | "nhóm trước ở quá giờ, không chịu ra" | Yếu về số người, nhưng có tần suất: "Tuần nào cũng có." |
| L8 | Mùa thi nhu cầu tăng gấp ba, quy tắc thường không còn hợp | Thầy Phong | "mùa thi thì nhu cầu tăng gấp ba" | Trong lời kể chỉ một người nói, nhưng số liệu xác nhận: lượt đặt tuần thi gấp 3,1 lần tuần thường. Nay là mạnh |
| L9 | Linh không đọc được sổ giấy và ảnh chụp lịch trên Facebook | Linh | "em không đọc được sổ giấy, phải nhờ bạn đọc giùm" và "Mà lịch đó là ảnh chụp cuốn sổ." | Yếu về số người, nhưng là rào cản tuyệt đối, không được loại |
| L10 | Báo cáo sử dụng hàng tháng làm tay mất 2 giờ | Cô Mai, thầy Phong | Cô Mai: "Cô làm tay mất hai tiếng, đếm đi đếm lại cho khớp." Thầy Phong: "số liệu cô Mai đếm tay từ sổ" | Mạnh, người làm và người nhận báo cáo cùng kể |
| L11 | Đặt hộ chỉ có tên người đặt; người đặt vắng thì phòng bị nhả dù cả nhóm có mặt; thủ thư không liên lạc được ai khác | Huy | "Cô cũng không có số điện thoại ai khác để gọi, chỉ có tên em." | Yếu về số người, nhưng câu chuyện rất cụ thể |
| L12 | Chìa khóa đổi bằng thẻ sinh viên, sinh viên hay quên lấy lại thẻ | Cô Mai, Linh | Cô Mai: "các em quên lấy thẻ lắm" Linh: "Em quên hai lần rồi." | Mạnh, cả hai phía quầy cùng kể |
Ba mâu thuẫn
Không ai trong sáu người biết mình đang mâu thuẫn với ai. Mỗi phía nằm ở một bản ghi khác nhau, nên bạn chỉ thấy được khi đặt ghi chú của sáu người cạnh nhau.
| Mã | Hai phía | Nhu cầu thật bên dưới | Một hướng xử lý hợp lý |
|---|---|---|---|
| X1 | Thầy Phong: "vắng hai lần không báo thì khóa quyền đặt hai tuần" ngược với Nam: "ốm đau hay đổi lịch thi đâu phải lỗi mình" | Thầy Phong cần chấm dứt việc giữ chỗ rồi bỏ. Nam cần không bị phạt vì lý do chính đáng | Cho hủy lượt dễ dàng trên ứng dụng tới sát giờ bắt đầu; chỉ tính vắng khi không hủy và không nhận phòng; thủ thư được gỡ một lần vắng khi có lý do. Phạt đúng người giữ chỗ, chừa đường cho người ốm |
| X2 | Anh Sơn: "Chỉ đăng nhập bằng tài khoản trường" ngược với thầy Phong: "nghiên cứu viên thỉnh giảng từ các trường bạn sang làm việc vài tháng, họ cũng cần đặt được phòng" | Anh Sơn cần mọi tài khoản có vòng đời do trường quản lý. Thầy Phong cần phục vụ người không có mã sinh viên | Giữ SSO là cách đăng nhập duy nhất. Người ngoài trường không đăng nhập; thủ thư đặt hộ trên hệ thống theo số thẻ thư viện của họ. Đưa phương án cho cả hai người duyệt, và hỏi anh Sơn khả năng cấp tài khoản khách có thời hạn trong SSO |
| X3 | Cô Mai: "Phòng nhóm là cho từ 4 người trở lên." ngược với Nam: "Nhiều khi chỉ có hai, ba đứa họp online" và Linh: "tụi em rất cần một phòng nhỏ, đóng cửa lại nói chuyện được" | Cô Mai cần tám phòng phục vụ được nhiều người nhất. Nhóm nhỏ cần một nơi được phép nói chuyện | Nhóm 2 tới 3 người chỉ được đặt phòng 1 tới 5 trong vòng một giờ trước giờ dùng, khi phòng vẫn còn trống; đo tỷ lệ sử dụng sau một tháng rồi điều chỉnh |
Sáu quy tắc nghiệp vụ
| Mã | Quy tắc | Ai nói | Câu nói | Viết lại dạng khi thì |
|---|---|---|---|---|
| B1 | Mỗi lượt tối đa 2 giờ; mỗi sinh viên tối đa 2 lượt mỗi ngày | Cô Mai | "mỗi lượt tối đa hai tiếng, mỗi em tối đa hai lượt một ngày" | Khi sinh viên đặt một lượt dài hơn 2 giờ, hoặc đã có 2 lượt trong ngày đó, thì hệ thống từ chối và nói rõ lý do |
| B2 | Mở đặt trước 7 ngày, từ 7:00 sáng | Cô Mai | "mình mở đặt trước bảy ngày, tính từ 7 giờ sáng" | Khi một ngày còn cách hôm nay đúng 7 ngày, thì lịch của ngày đó mở cho đặt từ 7:00 sáng hôm nay |
| B3 | Quá 15 phút không tới nhận phòng thì nhả cho người khác | Cô Mai, thầy Phong | Cô Mai: "Cô giữ quá 15 phút không thấy ai nhận phòng thì cô nhả cho nhóm đang chờ" Thầy Phong: "quá 15 phút không đến nhận phòng thì thủ thư được nhả cho người khác" | Khi đã qua 15 phút từ giờ bắt đầu mà lượt chưa được nhận phòng, thì lượt chuyển sang trạng thái vắng và phòng mở cho người khác |
| B4 | Tuần thi tối đa 1 lượt mỗi ngày, mở đặt trước 3 ngày | Thầy Phong | "trong tuần thi, thư viện áp dụng tối đa một lượt mỗi ngày cho mỗi sinh viên, và chỉ mở đặt trước ba ngày" | Khi ngày được đặt nằm trong tuần thi, thì mỗi sinh viên chỉ được 1 lượt trong ngày đó và chỉ đặt được trong vòng 3 ngày trước |
| B5 | Phòng 6 dành cho giảng viên sáng thứ Ba hằng tuần | Cô Mai | "phòng 6 sáng thứ Ba nào cũng để cho giảng viên" | Khi ngày là thứ Ba và khung giờ thuộc buổi sáng, thì phòng 6 không hiện cho sinh viên đặt |
| B6 | Lượt cuối phải kết thúc 20:45 để trả chìa và lấy thẻ | Cô Mai | "lượt cuối cô cho kết thúc lúc 8 giờ 45, để các em kịp trả chìa lấy thẻ" | Khi một lượt có giờ kết thúc sau 20:45, thì hệ thống không cho đặt |
Ba điều chỉ số liệu cho thấy
Ba điều dưới đây không ai trong sáu người nói ra. Không phải vì họ giấu, mà vì không ai đứng ở chỗ nhìn thấy được. Mỗi người chỉ thấy lượt của mình, hoặc thấy từng lượt một ở quầy. Chỉ khi cộng 1.240 lượt lại, khuôn mẫu mới hiện ra.
| Mã | Dòng số liệu | Điều số liệu nói | Điều phỏng vấn bỏ lỡ | Hệ quả cho thiết kế |
|---|---|---|---|---|
| D1 | Không tới nhận phòng: đặt trước 5 tới 7 ngày 38%, đặt trước 1 tới 4 ngày 19%, đặt trong ngày 6% | Tỉ lệ không tới 22% không chia đều; nó dồn vào các lượt đặt xa ngày | Nam, cô Mai và thầy Phong đều kể chuyện bỏ phòng, và cả ba đều quy về ý thức người đặt. Không ai nhắc tới việc đặt sớm bao lâu | Rút ngắn khung mở đặt, hoặc nhắc người đặt xác nhận trước giờ dùng và tự nhả lượt không xác nhận. Phạt như X1 chỉ là một cách, và không phải cách rẻ nhất |
| D2 | Tỉ lệ sử dụng phòng 6 tới 8 là 41%, phòng 1 tới 5 là 78%; nhóm đặt phòng 6 tới 8 trung bình 3,4 người | Phòng lớn đang được nhóm nhỏ đặt, và vẫn trống hơn nửa thời gian | Cô Mai nói phòng nhóm phải từ 4 người. Số liệu cho thấy trên thực tế nhóm nhỏ đã đang dùng phòng lớn | Nối thẳng vào X3: cho nhóm 2 tới 3 người đặt phòng nhỏ, hoặc chia một phòng lớn thành hai phòng nhỏ, để phòng lớn dành cho nhóm lớn |
| D3 | Thời gian dùng thực tế trung bình 1 giờ 20 phút, trong khi mỗi lượt đặt 2 giờ | Trung bình mỗi lượt, phòng trống khoảng 40 phút sau khi nhóm đã trả chìa | Người dùng không kể vì họ đã đi rồi. Thủ thư nhận chìa nhưng sổ không có chỗ ghi phòng đã trống lại | Khi chìa được trả, hệ thống nhả phần còn lại của lượt để nhóm khác đặt ngay |
Để ý một điều về D1: nếu bạn chỉ đọc phỏng vấn, X1 trông như câu hỏi phạt nặng hay phạt nhẹ. Đọc cả số liệu, câu hỏi đổi thành: vì sao người ta đặt mà không tới? Một phần lớn câu trả lời là họ đặt quá sớm, khi chưa biết lịch của mình. Đó chính là chuyện Nam kể về lịch thi đổi đột xuất, chỉ là nhìn từ phía 1.240 lượt chứ không phải một người.
Một kế hoạch đo lường mẫu
Kế hoạch dưới đây cho một đợt thí điểm 4 tuần thường, không trùng tuần thi. Lý do tách tuần thi nằm ngay trong số liệu: tuần thi có lượt đặt gấp 3,1 lần, nên so một tuần thi của đợt thí điểm với mức hiện tại của tuần thường sẽ cho kết quả sai, dù tốt hay xấu.
| Loại | Chỉ số | Cách đo | Mức hiện tại | Mục tiêu sau 4 tuần |
|---|---|---|---|---|
| North Star | Số giờ phòng được nhóm thật sự dùng mỗi tuần | Cộng thời gian từ lúc nhận phòng tới lúc trả chìa | Khoảng 160 giờ, tính từ bảng | 190 giờ |
| Dẫn dắt | Tỉ lệ lượt không tới nhận phòng trong 15 phút | Lượt bị nhả do quá 15 phút chia tổng lượt | 22% | Dưới 12% |
| Dẫn dắt | Tỉ lệ sử dụng phòng 6 tới 8 | Cùng cách tính với bảng của cô Mai | 41% | 60% |
| Dẫn dắt | Phần giờ được nhả sớm rồi có nhóm khác đặt lại | Giờ đặt lại chia tổng giờ được nhả khi trả chìa sớm | Chưa có, đo từ tuần đầu | Đặt mục tiêu sau tuần 2 |
| Bảo vệ | Tổng số lượt đặt mỗi tuần | Đếm lượt đặt trên ứng dụng và ở quầy | 155 lượt | Không dưới 140 lượt |
| Bảo vệ | Số lượt bị tính vắng mà thủ thư phải gỡ vì lý do chính đáng | Đếm lần gỡ trong tuần | Chưa có, đo từ tuần đầu | Không quá 5 lượt mỗi tuần |
Lượt mỗi tuần: 1.240 lượt chia 8 tuần = 155 lượt
Lượt có nhận phòng: 155 lượt trừ 22% = khoảng 121 lượt
Giờ dùng thật: 121 lượt nhân 1 giờ 20 phút = khoảng 161 giờ
Giả định: thời gian dùng 1 giờ 20 phút tính trên các lượt có nhận phòng
Vì sao chọn như vậy:
- North Star là giờ dùng thật, không phải số lượt đặt. Số lượt đặt có thể tăng mà sinh viên không được gì, ví dụ khi đặt dễ hơn thì giữ chỗ cũng dễ hơn. Giờ phòng có người ngồi học mới là giá trị thư viện tạo ra. Nó cũng gom cả ba điều D1, D2, D3 vào một con số: giảm không tới, lấp phòng lớn, nhả phòng sớm đều làm nó tăng.
- Ba chỉ số dẫn dắt mỗi cái gắn với một thay đổi trong thiết kế, nên khi North Star không nhúc nhích, bạn biết thay đổi nào chưa chạy.
- Chỉ số bảo vệ thứ nhất chặn trường hợp tỉ lệ không tới giảm chỉ vì sinh viên bỏ dùng hệ thống. Chỉ số bảo vệ thứ hai canh phía Nam trong X1: nếu số lần gỡ vắng tăng, quy tắc đang phạt nhầm người ốm và người bị đổi lịch thi.
Ba điều không thuộc phạm vi
| Lời đề nghị | Ai nói | Vì sao không thuộc phạm vi |
|---|---|---|
| Cho quán cà phê thư viện mở tới tối | Nam | Là giờ kinh doanh của quán, không liên quan tới việc đặt và dùng phòng |
| Nâng cấp Wi-Fi tầng 3 | Huy | Là hạ tầng mạng của trường, ứng dụng đặt phòng không thay đổi được |
| Giữ máy lạnh ở các phòng nhà cũ | Linh | Là sở thích về tiện nghi, không phải vấn đề trong việc đặt phòng |
Chấm điểm
Đếm số điều ẩn bạn bắt được, tối đa 24: 12 pain point, 3 mâu thuẫn, 6 quy tắc và 3 điều từ số liệu. Mỗi mục ngoài phạm vi bạn đã biến thành user story thì trừ 1.
flowchart TD
A[Đếm điều ẩn bắt được trên 24] --> B[Trừ 1 cho mỗi mục ngoài phạm vi thành story]
B --> C{Được bao nhiêu điểm?}
C -->|Từ 19 trở lên| D[Tốt, xem lại các mục còn sót]
C -->|Từ 14 tới 18| E[Xác định loại bỏ sót nhiều nhất]
C -->|Dưới 14| F[Làm lại từ khóa Từ ghi chép tới insight]
E --> G{Bỏ sót loại nào?}
G -->|Pain point hoặc mâu thuẫn| H[Luyện lại khóa Từ ghi chép tới insight]
G -->|Quy tắc nghiệp vụ| I[Luyện lại khóa Hiểu nghiệp vụ trước khi xây]
G -->|Pain point của một người| J[Luyện lại khóa Persona và User Journey]
G -->|Điều từ số liệu| K[Luyện lại khóa Đo lường thành công]Từ 19 trở lên: tốt. Bạn đọc bản ghi đủ kỹ để thấy cả những gì được nói thoáng qua. Xem lại vài mục còn sót và tự hỏi vì sao bạn lướt qua chúng.
Từ 14 tới 18: cần luyện lại một khóa. Đếm xem bạn bỏ sót loại nào nhiều nhất. Bỏ sót mâu thuẫn hoặc pain point có hai người nói: luyện lại khóa Từ ghi chép tới insight. Bỏ sót quy tắc: luyện lại khóa Hiểu nghiệp vụ trước khi xây. Bỏ sót pain point chỉ một người kể, nhất là của Linh hoặc Huy: luyện lại khóa Persona & User Journey dựa trên bằng chứng. Bỏ sót điều từ số liệu: luyện lại khóa Đo lường thành công.
Dưới 14: làm lại từ khóa Từ ghi chép tới insight. Tách lại sáu bản ghi thành ghi chú nguyên tử, mỗi ghi chú một ý và một người nói. Nếu bạn thấy ngay từ bản ghi chép đầu tiên của mình đã thiếu ý, quay xa hơn về khóa Phỏng vấn để hiểu vấn đề, phần ghi chép trong lúc nghe.
Những mục hay bị bỏ sót và khóa dạy cách bắt chúng
| Mục hay bị sót | Vì sao bị sót | Khóa dạy cách bắt |
|---|---|---|
| L9 trình đọc màn hình | Chỉ một người, và Linh không phàn nàn mà kể như chuyện bình thường | Persona & User Journey dựa trên bằng chứng |
| L11 đặt hộ | Bị gộp vào L2 vì cùng kết cục là mất phòng | Từ ghi chép tới insight |
| L12 quên thẻ | Nằm ở hậu trường, sau khi trả chìa, ngoài journey đặt phòng | Persona & User Journey dựa trên bằng chứng, phần service blueprint |
| L7 ở quá giờ | Chỉ thủ thư thấy, người dùng không kể | Không bỏ sót: kiểm tra độ đầy đủ, phần đường không vui |
| X2 tài khoản | Hai phía là hai người có chức vụ, mỗi người nói rất chắc | Từ ghi chép tới insight |
| X3 nhóm nhỏ | Cô Mai nói như một quy tắc, nên bị chép thẳng vào bảng quy tắc | Hiểu nghiệp vụ trước khi xây |
| B5 phòng 6 | Nằm trong câu trả lời cho một câu hỏi về việc khác | Hiểu nghiệp vụ trước khi xây |
| B6 lượt cuối | Nằm giữa câu chuyện về chìa khóa | Hiểu nghiệp vụ trước khi xây |
| B4 tuần thi | Bị đọc thành một ý chung về mùa thi, không thành quy tắc | Hiểu nghiệp vụ trước khi xây |
| D1 không tới do đặt xa ngày | Ai cũng giải thích bỏ phòng bằng ý thức người đặt, nên không ai chia tỉ lệ không tới theo thời điểm đặt | Đo lường thành công |
| D2 phòng lớn, nhóm nhỏ | Bị đọc thành con số về phòng, không nối sang X3 | Đo lường thành công |
| D3 trả chìa sớm | Con số 1 giờ 20 phút trông như chuyện bình thường, không ai trừ nó khỏi 2 giờ | Đo lường thành công |
| Ba mục ngoài phạm vi | Được nói như lời đề nghị trực tiếp, nghe giống yêu cầu | Từ journey tới user story |